Phóng viên danh dự

30.07.2026

Xem nội dung bằng ngôn ngữ khác
  • 한국어
  • English
  • 日本語
  • 中文
  • العربية
  • Español
  • Français
  • Deutsch
  • Pусский
  • Tiếng Việt
  • Indonesian
Đoàn Phóng viên danh dự Korea.net tham gia chuyến FAM Tour Busan nhân sự kiện Kỳ họp thứ 48 của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO tại Ga Busan. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)

Đoàn Phóng viên danh dự Korea.net tham gia chuyến FAM Tour Busan nhân sự kiện Kỳ họp thứ 48 của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO tại Ga Busan. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)



Bài viết từ Phóng viên danh dự Korea.net Trần Thị Thúy Trinh


Đứng trước ga Busan rực nắng cùng đoàn Phóng viên danh dự Korea.net trong chuyến FAM Tour đặc biệt hưởng ứng Kỳ họp thứ 48 của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO, tôi mang theo một sự háo hức đặc biệt khi tìm về Làng Somak Uam-dong. Không chỉ là một điểm dừng chân trong hành trình, mảnh đất từng là "chuồng bò kiểm dịch" này không chỉ khắc họa sức sống mãnh liệt của hàng vạn người dân tị nạn trong Chiến tranh Triều Tiên, mà còn lan tỏa thông điệp hòa bình vô giá cho mai sau.


Ý nghĩa tên gọi "Uam-dong" (우암동)


Ít ai biết rằng, cái tên Uam-dong (Ngưu Nham Động) bắt nguồn từ một câu chuyện vô cùng thú vị. Trong tiếng Hán - Hàn, "Uam" dùng để chỉ một tảng đá lớn hình con bò nằm trên ngọn đồi nhìn ra hải cảng. Tảng đá ấy dù đã bị phá hủy trong dự án cải tạo đất vào những năm 1930, nhưng cái tên gắn liền với hình ảnh con bò kiên cường dường như đã trở thành một định mệnh báo trước cho mảnh đất này.

Vào thời kỳ thuộc địa do Nhật Bản đô hộ (từ năm 1909), nơi đây được chính quyền thực dân chọn làm Trạm kiểm dịch gia súc xuất khẩu Busan - trung tâm tập kết lớn nhất cả nước thời bấy giờ. Với quy mô khoảng 40 dãy nhà bao gồm 19 dãy chuồng bò có sức chứa từ 1.400 đến 1.600 con gia súc cùng lúc. Chính quy mô rộng lớn này đã vô tình chuẩn bị một "mái che" bất đắc dĩ cho hàng nghìn phận người tị nạn sau này.


Chuồng bò ở Uam-dong - nơi từng là Trạm kiểm dịch gia súc xuất khẩu lớn nhất cả nước từ năm 1909. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh).

Chuồng bò ở Uam-dong - nơi từng là Trạm kiểm dịch gia súc xuất khẩu lớn nhất cả nước từ năm 1909. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)


Khi chuồng gia súc trở thành mái ấm sinh tồn


Bước chân vào không gian trưng bày, tôi không khỏi nghẹn ngào khi chứng kiến sự tương phản lịch sử giữa hai khoảng không gian. Ngay bên cạnh ô chuồng bò nguyên bản với bức tường gỗ và máng ăn bằng bê tông là không gian sinh hoạt tái hiện của một gia đình tị nạn mang tên "Mái ấm tạm thời sau con đường tị nạn xa xôi".


Không gian tái hiện

Không gian tái hiện "Mái ấm tạm thời" bên trong ô chuồng bò cũ với những vật dụng sinh hoạt đơn sơ của người dân tị nạn. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)


Khi ngọn lửa chiến tranh bùng cháy, hàng chục vạn người tị nạn đổ về Busan, nhà cửa trở nên khan hiếm nghiêm trọng. Sự gia tăng quá nhanh của dòng người tị nạn buộc họ phải dựng thêm các vách ngăn tạm bợ ngay bên trong những ô chuồng bò cũ kỹ ấy, tạo nên một quần thể cư trú độc đáo nhưng đậm chất gian lao của lịch sử.

Trong không gian chật hẹp chỉ vài mét vuông, không hề có những tiện nghi hiện đại. Tất cả những gì họ có để duy trì cuộc sống sinh tồn là vài chiếc nồi nhôm đen sạm, bộ ấm đồng cũ kỹ, chiếc đèn bão nhỏ và mấy bộ quần áo đơn sơ treo vội trên sợi dây thừng căng ngang tường bê tông. Nhìn hình ảnh người hướng dẫn viên cẩn thận chỉ vào những bức ảnh tư liệu đen trắng tái hiện cảnh các gia đình chen chúc nhau ngủ trên nền sàn gỗ tạm bợ dưới mái tranh, tôi mới cảm nhận hết sự khắc nghiệt của thời chiến và khả năng chịu đựng phi thường của con người.


Hình ảnh những phóng viên danh dự đang nghe giới thiệu về tư liệu lịch sử tại nơi đây. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)

Hình ảnh những phóng viên danh dự đang nghe giới thiệu về tư liệu lịch sử tại nơi đây. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)


Lắng nghe câu chuyện về những mái nhà chật hẹp ấy, tôi cảm thấy lòng mình lắng xuống. Giữa muôn vàn thiếu thốn của chiến tranh, con người nơi đây không chỉ tìm cách sinh tồn, mà còn nương tựa vào nhau để gieo mầm hy vọng. Dù không gian sống có thể chật hẹp, nhưng tinh thần kiên cường ẩn sau những bức tường ấy lại vô cùng to lớn và đáng trân trọng.

Những bức ảnh lịch sử biết nói


Dọc theo khu trưng bày, những bức ảnh tư liệu lịch sử được đặt trang trọng trên các giá gỗ dưới ánh nắng ấm áp chiếu qua khung cửa sổ. Đập vào mắt tôi là hình ảnh những đứa trẻ thời chiến: Có em bé gái lưng cõng em nhỏ đi trên con đường đất ngơ ngác, có những đứa trẻ đứng túm tụm bên con đường dốc.

Dù khoác trên mình những bộ quần áo sờn cũ và sống trong khung cảnh thiếu thốn của chiến tranh, ánh mắt của những đứa trẻ ấy vẫn ngời lên vẻ hồn nhiên và ngây thơ. Những bức ảnh này không chỉ ghi lại một thời kỳ gian khó, mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về tình thân, sự đùm bọc gia đình và sức sống mãnh liệt của thế hệ tương lai ngay giữa lòng biến động.


Những bức ảnh tư liệu ghi lại khoảnh khắc hồn nhiên của trẻ thơ giữa thiếu thốn thời chiến được trưng bày tại di tích. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)

Những bức ảnh tư liệu ghi lại khoảnh khắc hồn nhiên của trẻ thơ giữa thiếu thốn thời chiến được trưng bày tại di tích. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)


Mái nhà thời chiến còn nguyên vẹn – Nhịp cầu nối liền quá khứ và hiện tại


Khi ngước mắt lên trần của di tích, tôi thực sự ngỡ ngàng khi thấy toàn bộ khung dầm gỗ màu nâu thẫm cùng kiến trúc mái nhà gác xép thời chiến vẫn được gìn giữ gần như nguyên vẹn. Mặc cho lớp ngói xi măng bên ngoài đã phai màu, đốm đỏ đốm xám và chằng xịt dây điện của đô thị hiện đại xung quanh, những thanh dầm gỗ cổ kính ấy vẫn kiên cường đứng vững qua hơn bảy thập kỷ.


Khung dầm gỗ cùng cấu trúc mái gác xép thời tị nạn vẫn được giữ gìn nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)

Khung dầm gỗ cùng cấu trúc mái gác xép thời tị nạn vẫn được giữ gìn nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)


Tấm bảng lịch sử trải dài từ những năm 1910 đến 1980 khắc họa trọn vẹn hành trình biến đổi diệu kỳ của ngôi làng. Từ một trạm kiểm dịch gia súc thời thuộc địa (1910–1930s), nơi đây nhanh chóng trở thành "trái tim tản cư" đón hàng vạn người dân tị nạn trong Chiến tranh Triều Tiên (1950s). Đặc biệt, bước sang thập niên 1960–1970, chính những người dân tị nạn kiên cường năm xưa và con cháu họ đã trở thành lực lượng lao động nòng cốt, đặt nền móng cho sự bùng nổ công nghiệp và kinh tế của Busan. Lịch sử ngôi làng vì thế không dừng lại ở nỗi đau, mà là một khúc ca vươn lên đầy tự hào của cả một dân tộc.


Tấm bảng lịch sử trải dài từ những năm 1910 đến 1980 khắc họa trọn vẹn hành trình biến đổi diệu kỳ của ngôi làng. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)

Tấm bảng lịch sử trải dài từ những năm 1910 đến 1980 khắc họa trọn vẹn hành trình biến đổi diệu kỳ của ngôi làng. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)


Tấm bia "Chúc Hồn Bi" (축혼비) – Tri ân sự sống và tinh thần nhân văn


Một góc lắng đọng khác tại di tích là tấm bia đá cổ mang tên "Chúc Hồn Bi" (축혼비). Được dựng lên từ năm 1909 (thời Nhật thuộc), đây là tấm bia được lập ra để an ủi linh hồn của hàng ngàn con gia súc đã bị hy sinh trong quá trình kiểm dịch và xuất khẩu. Trên bia khắc dòng chữ cổ mang ý nghĩa tri ân và xoa dịu những sinh mạng đã cống hiến cho con người.

Sự xuất hiện của tấm bia đá này giữa lòng di tích như một nốt trầm nhân văn đặc biệt: Nếu như năm xưa con người lập bia để trân trọng sự cống hiến của vật nuôi, thì sau này chính không gian ấy lại dang rộng vòng tay che chở cho hàng ngàn cuộc đời tị nạn. Đó là sự tiếp nối kỳ diệu của tinh thần trân trọng sự sống và tình người trên mảnh đất này.


Tấm bia đá

Tấm bia đá "Chúc Hồn Bi" (축혼비) được dựng từ năm 1909 - nốt trầm nhân văn tri ân sự sống tại Làng Somak. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)


Từ ký ức Somak: Nhìn về hiện tại và kiến tạo tương lai


Đúng như bức thư ngỏ trên tường triển lãm đã viết: "Quá khứ và hiện tại được nối liền tại làng Uam". Những mái nhà ngói cũ kỹ, hư hại theo năm tháng không chỉ là dấu tích vật lý còn sót lại, mà còn là một chứng nhân kể lại câu chuyện về hành trình tái thiết phi thường. Từ một trạm kiểm dịch gia súc thời thuộc địa, trở thành xóm của người tị nạn đông đúc thời chiến, và nay là Di sản Văn hóa Quốc gia Hàn Quốc - Làng Somak chính là biểu tượng cho sức sống vươn lên từ tro tàn lịch sử.


Bức thơ ngỏ thể hiện tinh thần gắn kết giữa quá khứ và hiện tại ở khu di sản. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)

Bức thơ ngỏ thể hiện tinh thần gắn kết giữa quá khứ và hiện tại ở khu di sản. (Ảnh: Trần Thị Thuý Trinh)


Bài học rút ra từ Somak không chỉ là sự xót thương cho những đau thương mất mát, mà là bài học về sức sống phi thường và giá trị của hòa bình. Tinh thần "không gục ngã trước tro tàn" của thế hệ tản cư năm xưa chính là động lực để Hàn Quốc vươn lên trở thành một cường quốc kinh tế - văn hóa như ngày nay.

Đối với thế hệ trẻ và bạn bè quốc tế, di sản Somak như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc: Hòa bình và sự phồn vinh hôm nay được đổi bằng sự hy sinh và nỗ lực phi thường của biết bao thế hệ đi trước. Giữ gìn ký ức Somak không chỉ là bảo tồn một Di sản Văn hóa Quốc gia, mà chính là nâng niu một giá trị hòa bình mang tầm vóc nhân loại mà Busan đang tự hào lan tỏa đến thế giới. Đó sẽ mãi là ngọn hải đăng nhắc nhở chúng ta trân trọng hòa bình và không bao giờ từ bỏ hy vọng trước mọi thử thách của tương lai.


uyen81@korea.kr

* Bài viết này đã được viết bởi một phóng viên danh dự của Korea.net. Đoàn phóng viên danh dự chúng tôi có mặt ở khắp nơi trên thế giới, và họ luôn nỗ lực để chia sẻ tình yêu và lòng nhiệt huyết đối với tất cả mọi thứ của Hàn Quốc với Korea.net.